Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Hướng đi mới của Tây Sơn

Tây Sơn chấm dứt hoạt động 147 cơ sở lò gạch, ngói nung thủ công trong khu dân cư
UBND huyện Tây Sơn đang tiến hành triển khai việc tháo dỡ, chấm dứt hoạt động của 182 cơ sở lò gạch, ngói đầu tiên trên địa bàn huyện. Trong đó có 147 cơ sở tồn tại và hoạt động trong các khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường từ nhiều năm qua phải tháo dỡ, chấm dứt hoạt động; 35 cơ sở trong các khu tập trung sẽ được tháo dỡ hoặc chuyển đổi sau. Thời hạn để các cơ sở này chuyển đổi, chấm dứt hẳn hoạt động là ngày 31.12.2014. Đây là chương trình  thực hiện theo Chương trình phát triển vật liệu xây không nung của Chính phủ.
Huyện Tây Sơn có tới 947 cơ sở lò nung gạch, ngói, chiếm hầu hết số lò nung gạch ngói thủ công trên địa bàn tỉnh Bình Định; trong đó có 946 cơ sở có công suất trên 0,65 triệu viên/năm. Riêng tại xã Bình Nghi có tới 108 cơ sở, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, chiếm đến 70% giá trị kinh tế của xã.
Ông Nguyễn Kế Lộc, Trưởng Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Tây Sơn, nói: Những cơ sở chuyển đổi đợt này có công suất trên 0,65 triệu viên/năm, được đề nghị hỗ trợ chi phí tháo dỡ, chấm dứt hoạt động 10 triệu đồng mỗi cơ sở; cơ sở có công suất từ 0,4-0,65 triệu viên/năm được hỗ trợ 7,5 triệu đồng. Ngoài ra, mỗi cơ sở được đề nghị hỗ trợ ổn định đời sống cho 7 lao động, chi phí hỗ trợ 945.000 đồng/người.
Theo kế hoạch, phải đến năm 2016, huyện Tây Sơn mới chấm dứt hoạt động hoàn toàn của 947 lò nung gạch, ngói trên địa bàn, chậm hơn lộ trình đề ra của Chính phủ (30.6.2014) vì nhiều nguyên nhân. Trong đó, nghề gạch, ngói thủ công là nghề truyền thống của đông đảo người dân, là nguồn thu chính của rất nhiều hộ dân cư trong khi đó, nguồn lực kinh tế của chủ các cơ sở nhỏ lẻ còn thấp khó chuyển đổi sang sử dụng công nghệ cao.
Hiện tại, huyện Tây Sơn đã quy hoạch 2 cụm điểm sản xuất gạch, ngói tập trung theo công nghệ Hoffman (nung liên tục với buồng đốt di động) cho 15 cơ sở. Riêng phía Nam sông Côn được quy hoạch 10 cơ sở, phía Bắc 5 cơ sở; mỗi cơ sở có công suất 120 triệu viên/năm, đảm bảo sản lượng tương đương với năng lực hiện tại trên toàn huyện. Ngoài ra, huyện cũng đã có 2 cơ sở sản xuất gạch, ngói không nung, mỗi cơ sở sản xuất một dòng sản phẩm riêng gạch - ngói. 

Món ngon Tây Sơn

MÓN NGON TÂY SƠN: BÚN RIÊU CUA VỊ SÔNG KÔN
Cập nhật: 03:09 | 03/09/2014
Để có món riêu cua ngon, đậm đà, các cô chủ quán phải đến các vùng quê tìm mua những con cua đồng mọng căng mập ú. Cua sau khi bắt về rửa sạch, giã nhỏ hoặc xay nhuyễn, sau đó lược bỏ xác lấy nước.
Sau khi nấu nồi nước cua sôi, đổ ít nước có trộn trứng gà đánh với các gia vị cà chua, bột ngọt, đường, muối, tiêu, ớt. Nấu sôi tiếp độ 10 phút ta có nồi nước riêu cua với những mảng riêu kết đặc màu nâu vàng thơm đặc biệt.
 
Ăn bún riêu cua nhất thiết phải có một dĩa rau gồm các loại như bắp chuối thái ghém, rau tía tô, rau răm, giá đậu, xàlách xanh non, rau thơm… Trên bàn ăn lúc nào cũng sẵn một chén tương ớt, chén mắm ruốc, ớt xanh, tỏi, chanh… Sáng hay chiều ăn tô bún riêu toả hơi thật… ấm lòng. Bún riêu cua Quy Nhơn mang hương vị đồng quê phù sa của dòng sông Kôn, của những cánh đồng lúa bạt ngàn đất võ giáp ranh các huyện Hoài Nhơn, An Nhơn, Phù Mỹ… Mùi riêu cua gợi nhớ tuổi thơ, nhớ cánh đồng, hương mùa lúa chín.
Tại các đường phố Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Huệ, Tây Sơn, Nguyễn Thái Học… mỗi tô bún giá chỉ 7.000 – 15.000đ, nếu tô đặc biệt cũng chỉ 17.000đ. Mời các bạn nếu có một lần về Quy Nhơn nhớ thưởng thức món ngon này, chắc chắn dư hương sẽ còn đọng mãi.

Tháp Dương Long



Mặt sau của tháp
14g22 ngày 18/8/2014


Mặt trước của tháp 
14g13 ngày 18/8/2014


Bia xếp hạng 
14g12 ngày 18/8/2014

THÁP DƯƠNG LONG 
(Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định)


THÁP DƯƠNG LONG
(Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) 
          Tháp Dương Long là cụm di tích gồm 3 tháp được xây dựng vào nửa cuối thế kỉ 12. Trước đây tháp toạ lạc tại địa phận 2 thôn Vân Tường xã Bình Hoà và An Chánh xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, hiện nay khu vực tháp được sáp nhập về thôn An Chánh xã Tây Bình để thuận lợi trong công tác hành chính.
          Trong quyển Nước non Bình Định, Quách Tấn đã viết rằng:
          Tháp DƯƠNG LONG gồm có ba ngọn đứng ngang nhau trên một nổng gò cao, một nửa thuộc thôn Vân Tường, một nửa thuộc thôn Trường Định, quận Bình Khê. Ngọn tháp chính giữa cao hơn hai ngọn hai bên, một mười một tám. Người Pháp gọi tháp này là Tour d Ivoire (Tháp Ngà)
          Trong các tháp ở Bình Định, tháp Dương Long ít hư hơn hết và cũng đẹp hơn hết …. (trang 225)
          Tháp được xếp hạng ngày 10 tháng 7 năm 1980.

Nguồn
- Tạp chí Khoa học và công nghệ Bình Định
- Trang thông tin điện tử Sở văn hoá, thể thao và du lịch Bình Định.

Về vũ khí hỏa hổ và hỏa cầu lưu hoàng của nghĩa quân Tây Sơn

Về vũ khí hỏa hổ và hỏa cầu lưu hoàng của nghĩa quân Tây Sơn
Trong lịch sử chiến tranh thời cổ - trung đại ở Việt Nam, chưa có cuộc chiến tranh nào mà lối đánh hỏa công lại mãnh liệt và đạt hiệu quả cao như thời Tây Sơn hồi nửa sau thế kỷ XVIII. Để thực hiện lối đánh hỏa công, nghĩa quân Tây Sơn thường sử dụng phổ biến 2 loại hỏa khí là hỏa hổ và hỏa cầu lưu hoàng/huỳnh.
Về hỏa hổ, sách Lê Quý vật sử cho biết, gồm có hỏa tiễn và hỏa sào. Hỏa tiễn đã được xuất hiện dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) với tên gọi là hỏa tiễn bí pháp.
Sách Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ ghi lại cách làm, cấu tạo và cách sử dụng hỏa tiễn bí pháp như sau: “Lấy cái ống dài 6 tấc 3 phân nhồi thuốc súng làm 3 nấc: nấc thứ nhất dài 1 tấc, giã 300 chày; nấc thứ hai dài 3 tấc, giã 300 chày và nấc thứ ba nạp tên sắt, đuôi tên có đeo sào dài 1 tấc, lại nạp thuốc1 tấc, giã 300 chày xong rồi, đằng sau ống dùng tre già 5 tấc tiếp vào, lại cho ngòi thuốc xuyên vào đầu ống. Lúc dùng lấy lửa đốt đầu ngòi thì thuốc lửa cùng tên sắt tự nhiên bắn tung ra”.
Còn hỏa sào, theo Lê Quý dật sử, là một cây sào lửa được buộc trên đầu ngọn giáo. Nó đã được mô tả khá kỹ trong một bức thư gởi về Giáo hội của giáo sĩ Jean de Jesus khi ông trông thấy loại hỏa khí này hồi đầu năm 1777 ở Gia Định.
Theo Jean de Jesus, hỏa sào giống như một cái lao, gồm có 2 phần, phần thứ nhất tựa như một chiếc gậy ngắn làm bằng gỗ có nhiều gai dài được uốn cong như lưỡi câu; đoạn gậy này được nối vào phần thứ hai là 1 cây sào, phía trên đầu sào trát đầy một loại nhựa cây gây cháy và bên ngoài quấn lá như một cây đuốc.
Khi sử dụng thì đốt đầu đuốc đó lên rồi phóng hoặc đâm vào đối phương, chất cháy được bắn ra tung tóe kết hợp với những lưỡi gay móc câu cào xé thân thể binh lính địch. Do cả 2 loại hỏa tiễn và hỏa sào đều phun ra lửa mãnh liệt, dữ dội như hổ nên theo cách giải thích của Đào Duy Từ trong Hổ trướng khu cơ được gọi là hỏa hổ.

Tây Sơn tập trung sản xuất Đông Xuân 2014-2015

Cơ bão số 4 đi qua không ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2014-1015 trên địa bàn huyện Tây Sơn, ngoài một số ít diện tích lúa vùng trũng vừa xuống giống bị ngập. Hiện nay bà con nông dân tiếp tục tập trung ra đồng làm đất, ngâm ủ giống để gieo sạ đúng thời vụ. cho đến nay toàn huyện đã gieo sạ gần 500/2000 ha lúa chân ruộng 3 vụ.
Nông dân gieo sạ lúa Đông Xuân

Theo kế hoạch, đông xuân này toàn huyện Tây Sơn  sản xuất 4.700 ha lúa. Trong đó 2.700 ha chân ruộng 2 vụ. Cơ cấu các giống lúa chủ lực như: ĐV 108, ĐB 6, VĐ8, VTNA 2, OM 6076, OM 7347, TBR 36, TBR 225,  các giống lúa lai gồm Xuyên Hương 178 và TH 3-3, các giống lúa dòng OM

Hội nghị tổng kết mô hình cánh đồng mẫu lớn

Sáng ngày 22/3, UBND xã Tây Thuận đã tổ chức Hội nghị tổng kết mô hình cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa lai xuyên hương 178. Đại diện lãnh đạo phòng nông nghiệp huyện đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh và UBND huyện Tây Sơn về việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn, vụ Đông Xuân 2012-2013, xã Tây Thuận đã tham gia 60 ha diện tích lúa trong mô hình, với sự tham gia của 431 hộ dân, mô hình thực hiện thí điểm ở thôn Tiên Thuận, toàn bộ sử dụng giống lúa lai Xuyên Hương 178, áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất chung của tỉnh, huyện và hướng dẫn của Công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam. Qua theo dõi tại các cánh đồng cho thấy lúa lai Xuyên Hương 178 có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, phù hợp với với tình hình thổ nhưỡng, khí hậu trên địa bàn xã, cây lúa sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh khỏe, độ đồng đều cao, bông dài, cây cứng có khả năng chống được đỗ ngã tốt, cây lúa tích lũy chất khô tốt nên hạt mẫy, ít lép, ít nhiễm sâu, bệnh hại. Đến nay, bà con đã thu hoạch khoảng 60% diện tích lúa thuộc mô hình cánh đồng mẫu lớn, kết quả lúa trong ruộng cánh đồng mẫu lớn có số bông hữu hiệu /m2, số hạt/ bông, số hạt chắc/bông khá, đóng hạt dày, dạng hạt dài vừa, năng suất lúa lai Xuyên Hương 178 trên ruộng cánh đồng mẫu khá cao, đạt từ 77 đến 80 tạ/ ha, cao vượt trội so với lúa sản xuất đại trà khoảng 14 tạ/ ha, lợi nhuận cao hơn 1,45 lần so với các mô hình ngoài cánh đồng mẫu lớn.
         
Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo Phòng nông nghiệp huyện đã đánh giá cao những kết quả đạt được bước đầu của mô hình cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa lai Xuyên Hương 178 trên địa bàn xã Tây Thuận, đồng thời giải đáp những vấn đề  khó khăn, vướng mắt của bà con trong quá trình sản xuất cây lúa trong mô hình; đề nghị Công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam tiếp tục hỗ trợ về giống, kỹ thuật cho bà con trên địa bàn xã có điều kiện tham gia mở rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa lai trong các vụ sau đạt hiệu quả cao hơn.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Bảo tàng Quang Trung

Bảo tàng Quang Trung-Bảo tàng tâm linh
Viết bởi Nguyễn Thế Khoa   
Thứ tư, 24 Tháng 6 2009 23:20
Hình thành trên chính nền nhà cũ của gia tộc Nguyễn Huệ ở làng Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, nay thuộc thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, quần thể Bảo tàng Quang Trung – điện thờ Tây Sơn là khu Bảo tàng Danh nhân lớn nhất cũng là một trong những bảo tàng thu hút lượng khách đến tham quan du lịch học tập nhiều nhất trên đất nước ta hiện nay. Đây sẽ là một trong những địa điểm chính của Festival Tây Sơn – Bình Định 2008.

Rưng rưng bến sông, cây me, giếng nước
Ai đến với Phú Phong, nhẹ bước trên cầu Kiên Mỹ bắc qua con sông Kôn nổi tiếng để đến với Bảo tàng Quang Trung, cũng có thể cảm nhận được linh khí núi sông của vùng đất từng sinh ra những anh hùng áo vải Tây Sơn.  Không phải ngẫu nhiên Bảo tàng Quang Trung bắt đầu từ bến Trường Trầu bên dòng sông Kôn và kết thúc ở Điện thờ Tây Sơn tam kiệt. Với 11.057 tư liệu hiện vật gốc và hàng trăm hiện vật phục chế về Nhà Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung được coi đang sở hữu một kho tư liệu, hiện vật giàu có, phong phú nhất về một thời đại lừng lẫy và vị vua kiệt xuất nhất, được yêu mến nhất trong lịch sử dân tộc. Đây là thành quả một quá trình nỗ lực không ngừng của tập thể cán bộ, nhân viên Bảo tàng trong hơn 30 năm qua, kể từ ngày thành lập 1977. Bước chân của họ đã đi khắp đất nước, ra cả nước ngoài để tập hợp về đây tất cả những tư liệu hiện vật liên quan đến phong trào Tây Sơn và vua Quang Trung. Ta có thể gặp những báu vật như chiếc trống da voi của đồng bào Tây Nguyên tham gia phong trào Tây Sơn, ấn tín, các sắc phong, gia phả của nhiều văn thần, võ tướng; chuông đồng, súng thần công, ấn tín, tiền đồng Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, tấm bia mộ tổ dòng họ Tây Sơn…Nhiều hiện vật trong số này được nhân dân Bình Định và nhiều địa phương trong cả nước lưu giữ tặng lại bảo tàng, cũng có một số hiện vật đến thông qua đại sứ quán các nước bạn mà Bảo tàng nhờ cậy. Tuy vậy, thật xúc động là khi ta được tận mắt di tích bến Trường Trầu lặng lẽ giấu mình sau lùm tre bên bờ sông Kôn mênh mông cuộn nước, cái bến sông mà nhờ nghề buôn trầu lên nguồn xuống biển, Nguyễn Nhạc đã thu phục nhân tâm, tập hợp lực lượng nhân dân Kinh - Thượng, mưu nghiệp lớn. Càng xúc động hơn là được đứng dưới bóng me cổ thụ từng che mát anh em Nguyễn Huệ giờ vẫn xanh um và được uống những ngụm nước ngọt mát, trong vắt, kéo lên từ cái giếng nhà Nguyễn Huệ. Những ngụm nước như kéo gần lại hơn 200 năm lịch sử và ta như thấy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở vừa từ Điện thờ bước ra, đến chia cùng ta gàu nước được kéo lên từ cái giếng đá ong thân thiết của họ.
Bảo tàng Quang Trung
Nhạc, võ, hai trong một
Võ thuật và trống trận Quang Trung là hai di sản phi vật thể lớn của Nhà Tây Sơn. Ba anh em Tây Sơn là những người có vai trò rất to lớn khai sáng, phát triển, hoàn thiện các võ phái Bình Định, cải cách nâng cao các bài quyền, bài binh khí để truyền dạy cho nghĩa quân. Tương truyền, Nguyễn Huệ sáng tạo Yến phi quyền, Độc lư thương, Nguyễn Lữ sáng tạo Hùng kê quyền, được coi là những độc chiêu của võ thuật Binh Định. Cũng chính Nguyễn Huệ đã chủ trương hình thức đưa nhạc trống vào khích lệ ba quân chiến đấu, còn truyền lại ngày nay với tên gọi trống trận Quang Trung.

Bánh hỏi - miếng ngon đất võ

2. Bánh hỏi - miếng ngon đất võ



Không giống như bún, cũng không giống bánh cuốn, bánh ướt...  Người dân đất võ Tây sơn (Bình Định) có thói quen ăn bánh hỏi bất cứ lúc nào trong ngày.

Ăn sáng bằng bánh hỏi với lòng heo, ăn bánh hỏi bữa trưa khi không nấu được cơm, tối đi chơi về thấy đói cũng có thể ra phố mua nửa cân bánh hỏi về ăn...Theo những người già kể lại, bánh hỏi có từ xưa, là thứ bánh lạ, lúc đầu mới làm ra, ai thấy cũng hỏi là bánh gì? Từ đó, cái tên bánh hỏi được khai sinh.

Giữ lửa cho nghề nón lá ở Bình Thuận


Ngày nay, biết bao làng nghề truyền thống đang bị mai một, nhưng nghề chằm nón lá ở Thuận Hạnh, Bình Thuận thì vẫn tồn tại với thời gian, bởi dân làng yêu thích và muốn lưu giữ nghề mà cha ông mình đã chọn. Nhiều gia đình ở Thuận Hạnh nhờ chằm nón kết hợp với làm ruộng mà cuộc sống ổn định, có điều kiện nuôi con ăn học.
Làng nghề nón lá Thuận Hạnh, xã Bình Thuận được công nhận là Làng nghề truyền thống


Về đất Tây Sơn

Về Tây Sơn, đất võ nổi tiếng của anh em Quang Trung Nguyễn Huệ, bạn không thể bỏ qua những món ăn nổi tiếng: chim mía, cá lúi sông Côn và dé bò. Dé bò thì nhiều nơi có. Cái độc đáo, cái khác của dé bò Tây Sơn là cách chế biến: dé bò nấu lá dang.

Món dé bò dân dã chính hiệu Tây Sơn thường xuyên thu hút sự chú ý của mọi người. Ảnh: ĐÔNG A
Dé là ruột non nhưng món dé Tây Sơn bao hàm cả các thứ lòng chay, thêm huyết, lòng lá xách… Trong đó, lá dang là thứ không thể thiếu.
Cách làm khá đơn giản. Các thứ lòng chay cắt miếng vừa miếng, ướp gia vị: chút muối, tiêu, bột ngọt, hành. Vài tép sả đập dập thả vào nồi nước nấu. Nước sôi thả lá dang và phần dé đã ướp sôi bùng vài phút. Nêm cho vừa miệng. Là có món.
Bỏ giá sống vào tô rồi múc nước, dé. Rắc lên các thứ rau mùi xắt mỏng: ngổ, lá lốt, ngò tàu, rau răm, mấy lát ớt… Khi ăn phải có bánh tráng nướng.
Bạn múc ra chén, có nước có cái, bẻ bánh tráng vào là ăn. Vị ngọt mềm của mấy lát gan, tụy, thêm chút nhân nhẩn của dé, chút thơm các thứ rau mùi và giòn giòn rau giá, bánh tráng, nhất là tất cả cùng về hùa với lá dang chua chua, chất xin xít lưỡi của nước ruột dé làm nên một tổng phổ đủ cung bậc quyến rũ trên lưỡi.

Bánh cuốn Tây Sơn- đặc sản Bình Định

Bánh cuốn Tây Sơn- đặc sản Bình Định

ảnh 1
Bánh cuốn Tây Sơn

Nói đến Bình Đinh là nói đến Tây Sơn tam kiệt là cái nôi của miền đất võ với ẩm thực gắn liền là rượu bầu đá và Bánh cuốn Tây Sơn.
Bánh cuốn Tây Sơn không ai biết nó có từ khi nào,có người nói rằng nó xuất hiện từ thời vua Quang Trung hành quân thần tốc ra bắc đánh giặc và nó mà món ăn chủ lực thời đó….
Nghe thì quen lắm, nhưng ai chưa từng ăn thì tôi chắc rằng họ sẽ ngạc nhiên khi lần đầu tiên thấy nó. Bánh sử dụng cái bánh tráng dùng để cuộn, bên trong là một xâu thịt heo nướng, một miếng đậu khuôn,vài cuốn chả ram chiên giòn và một đĩa rau sống đủ mùi vị của rau chân quê. Chưa hết, thêm một quả trứng vịt luộc xắt lác theo chiều dọc cho dễ cuốn. Tất cả đều trải lên tấm bánh tráng đã nhúng nước cho mềm làm lá cuốn và cuốn thành một cuốn tròn được bóp lại hai đầu sao cho thật ngon và thật khéo.
Nước chấm được pha chế bằng đậu phộng giã nhỏ vừa mặn mặn vừa thơm thơm vừa béo béo. Bánh cuốn Tây Sơn là sự kết hợp hài hòa giữa độ dẻo của bánh tráng, độ giòn  của  chả ram, độ dai của thịt, độ béo của nước chấm, độ bùi của trứng và đậu khuôn, mùi thơm của rau lẫn với độ thơm của thịt nướng cùng với đó là những trái ớt bay, những tép tỏi, đó là những phụ gia đích thực làm cho bữa ăn vừa âm thanh, vừa hương vị,vừa đặc sắc, thật là tỉnh trí và đậm đà.
Như vậy Bánh cuốn Tây Sơn được ăn bằng tay,bằng mắt,bằng miệng, bằng tai và cảm nhận bằng tâm hồn. Nhiều giác quan được huy động cho ẩm thực dân dã nhưng đã trở thành nổi tiếng của cả vùng, có lẽ chính điều đó đã khiến Bánh cuốn Tây Sơn trở thành một trong những cái tên “nhắc mà thèm” với bất kì ai đã được nếm qua, bất kể người Việt Nam hay du  khách nước ngoài.
Nguyen dinh chinh.

KHU TÂM LINH ĐÀN TẾ TRỜI ĐẤT

KHU TÂM LINH ĐÀN TẾ TRỜI ĐẤT


Tại núi Ấn Sơn, thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, UBND tỉnh Bình Định đã triển khai xây dựng dự án đàn tế trời đất và một số công trình du lịch. Dự án được xây dựng trên diện tích hơn 46ha gồm các hạng mục chính như: đàn tế trời đất, khu đền ấn, đường hành lễ... với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 49 tỉ đồng do BIDV vận động các doanh nghiệp hỗ trợ cùng nguồn vốn ngân sách tỉnh. Đàn tế được xây dựng trong phạm vi ngọn Ấn Sơn, rộng 46 ha. Trong đó, điểm đặt đàn tế là đỉnh núi Ấn. Đàn tế có 2 tầng nền gồm hình vuông bên dưới và hình tròn bên trên tượng trưng cho trời và đất. Quanh khu Đàn tế từ đỉnh Ấn Sơn đi xuống còn có Đền Ấn, trong đó có khu vực đặt bài vị của ba anh em nhà Tây Sơn, hồ bán nguyệt, nghi môn, nhà quản lý khu di tích…
Ấn Sơn là ngọn núi thấp, được bao bọc bởi những dãy núi cao trùng điệp. Với người dân Bình Định từ xa xưa, ngọn Ấn Sơn là nơi linh khí tụ hội.


Công trình Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn gồm các hạng mục: Đàn thiêng để tế Trời Đất, Đền Ấn và các công trình phụ trợ (tháp Báo Thiên, sân luyện võ, khu ban quản lý, chòi nghỉ, hồ bán nguyệt, miếu thờ thổ công, cổng sân…) được bố trí theo trục thần đạo hướng Nam – Bắc trên khu đất rộng 46 ha, với tổng kinh phí trên 50 tỉ đồng, do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tài trợ, Công ty CP Khoáng sản và Năng lượng An Phú làm chủ đầu tư.
Đàn tế trời đất tọa lạc trên đỉnh cao nhất của Ấn Sơn, cấu trúc 3 tầng: Tầng trên cùng hình tròn gọi là Viên Đàn, có đường kính 27 m, tượng trưng cho Trời, được xây bao bằng đá ong, lan can đá màu đỏ bao quanh, nền đất nện chặt, một lối lên từ hướng Nam có 5 bậc. Chính giữa Viên Đàn đặt sập đá và nhang áng đá là áng thờ Trời – Đất. Tầng thứ hai gọi là Phương Đàn, có hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 54 m, tượng trưng cho Đất, cũng được xây bao bằng đá ong, lan can đá màu vàng bao quanh, 4 lối lên theo 4 hướng Nam-Bắc-Đông-Tây, mỗi lối lên có 9 bậc. Nơi đây khi tế lễ sẽ bố trí các áng thờ thần như: thần mặt trời, mặt trăng, các thần biển, sông, núi, đầm… Tầng dưới cùng cũng hình vuông được xây bao bằng tường đá ong có 4 lối vào theo 4 hướng, hướng chính là hướng Nam với cổng tam quan, 2 tầng, lối đi chính có 2 tầng mái, bên trong tam quan là một bức bình phong bằng đá, ba hướng còn lại là 3 nghi môn kiểu tứ trụ thẳng hàng, là nơi chuẩn bị và một số nghi thức diễn ra ở đây trước khi tế lễ.


Nằm bên phải Đàn tế là khu Đền Ấn gồm 3 hạng mục: Tiền tế có kiến trúc mặt bằng chữ Nhất, 5 gian, mái chái, có đầu đao. Nhà Tiền tế có bàn thờ chung các tướng lĩnh và quân sĩ thời Tây Sơn. Tiếp sau Tiền tế là Phương đình – nơi tượng trưng cho sự thông thiên, giao hòa giữa Trời và Đất, giữa Âm và Dương, ở đây sẽ đặt bản sao của Ấn lệnh nhà Tây Sơn. Phía trong cùng là kiến trúc Hậu cung, mặt bằng chữ nhất, 3 gian, mái chái là nơi đặt bàn thờ cùng bài vị của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Phía trước cổng Tam quan ngoài cùng của trục chính là hồ nước hình bán nguyệt vừa tạo phong thủy tốt cho hướng chính diện của Đàn tế vừa tạo điểm nhấn cho tổng thể qui hoạch Đàn thiêng. Ngoài hồ nước còn có một “nghi môn ngoại” ngăn cách giữa không gian tâm linh với bên ngoài.
Theo truyền thuyết, trước khi khởi binh ra Bắc để thực hiện sự nghiệp thống nhất đất nước, ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã lên núi Ấn - ngọn núi thiêng thuộc thôn Hoà Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn lập đàn tế xin trời đất trao ấn, kiếm lệnh để dấy binh khởi nghĩa. Cảm lòng người, trời đất đã linh thiêng trao “Kiếm lệnh và ấn hình vuông có khắc bốn chữ “Sơn - hà – xã - tắc” đã phù hộ ba anh em Tây Sơn hoàn thành thắng lợi sự nghiệp thống nhất đất nước. Sau này khi Nguyễn Huệ đã trở thành Hoàng đế Quang Trung nhưng vì phải lo toan nhiều việc lớn rồi không may mất sớm nên ông chưa về lại nơi đây để lễ tạ.


Việc đầu tư xây dựng Đàn tế trời đất núi Ấn là thể hiện lòng tôn kính và ghi nhớ công lao to lớn của nghĩa quân Tây Sơn lúc ban đầu dựng cờ chống lại thù trong giặc ngoài. Đồng thời, đàn tế trời tạo nên một điểm nhấn du lịch hấp dẫn cùng với bảo tàng Quang Trung và những di tích đền thờ nghĩa quân Tây Sơn nằm trên trục đường quốc lộ 19 từ Quy Nhơn lên An Khê –Gia Lai. Theo ông Lê Hữu Lộc – Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, công trình khu du lịch tâm linh Ấn Sơn là tấm lòng của hậu nhân đối với tiền nhân lưu danh muôn thuở; có thêm công trình này, Bình Định có thêm một địa chỉ để nhân dân cả nước, du khách gần xa đến thăm viếng, bày tỏ, chiêm bái tinh thần phong trào Tây Sơn trường tồn.

Ngọt thơm chim mía Tây Sơn

Ngọt thơm chim mía Tây Sơn
Thứ sáu, 14/06/2013 14 giờ 15 GMT+0


Chim mía rô-ti.
Đến với thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, quê hương của Quang Trung Nguyễn Huệ, một vùng trung du bán sơn địa, với lưu vực sông Kôn từ xưa bạt ngàn đồng mía. Trong đồng mía bạt ngàn của đất Tây Sơn ấy, có một loài chim nhỏ, cư trú từng đàn lớn, người ta gọi đó là chim mía Tây Sơn. Món đặc sản này nổi tiếng đến mức, du khách gần xa khi đến đây đã để lại câu nói:
Ai về Kiên Mỹ, Phú Phong
Ăn con chim mía thỏa lòng ước ao

Chim mía nhỏ như chim sẻ, tuy nhiên chân và mỏ dài hơn. Muốn đánh bắt chim mía, người ta dùng cái trủ như tấm lưới, căng suốt bờ ruộng cao hơn ngọn mía, cầm sào dài đập vào lá mía, rung đuổi chim và lần lượt chúng chuyền dần vào trủ. Những chú chim mía béo tròn sau khi vặt lông, hơ qua lửa cho cháy hết lông tơ, còn lại như một miếng thịt nạc, sau đó rửa sạch mổ moi ruột rồi ướp gia vị. Món ngon nhất là chim nướng và rô-ti.

Du lịch Hầm Hô

KHU HẦM HÔ
Hầm Hô thuộc thôn Phú Lâm, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cách Thành phố Qui Nhơn 50km về phía Tây Bắc. Nằm trong lòng sông Kút đổ ra sông Kôn có dòng nước quanh năm xanh biếc, vẻ đẹp Hầm Hô thật kỳ vĩ. Trước mắt du khách là cảnh núi rừng trùng điệp. Hai bên bờ sông rừng cây nguyên sinh rợp bóng mát là vách núi dựng đứng.

Lòng sông có những dãy đá Hoa Cương nhiều hình thù kỳ lạ muôn màu lóng lánh, rực rỡ tạo nên kho tàng đá đầy huyền thoại. Nước sông cuộn chảy quanh co theo các ghềnh thác với các địa danh rất sử thi và lãng mạn như: Đá Thành, Đá Bàn Cờ, Đá Chùm, Đá Dựng, Đá Trải, Cửa Sanh, Cửa Tử, Thác Cá Bay, Vũng Cá Rói, Hòn Trào, Hòn Lò Rượu, Dấu Chân Khổng Lồ... luôn tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, sảng khoái. Có thể nói cảnh quan, trời mây, sông nước Hầm Hô như là cảnh tiên thật “Sơn thủy hữu tình” càng đi vào sâu, cảnh vật càng kỳ thú, hương rừng ngào ngạt, chim hót líu lo làm cho cuộc sống thêm thi vị.
Hầm Hô với nhiều tên gọi “Cửa ngõ một thiên đường”, “Duyên dáng nét ngọc Hầm Hô”, “Hòn non bộ khổng lồ giữa thiên nhiên”, “Hầm Hô thạch trụ” quả thực có sức hấp dẫn rất lớn với du khách.